Cách xem màu mạng gà đá cựa sắt theo Kê kinh

Kết quả thi đấu chọi gà phụ thuộc hầu hết vào bổn bang và chế độ nuôi dưỡng hằng ngày. Tuy nhiên, hiện nay, các trại gà cạnh tranh lẫn nhau để cung cấp gà đá chất lượng ra thị trường. Bổn bang dù cực kỳ quan trọng nhưng không thể lấy đó làm lợi thế. Các phương pháp biệt dưỡng, ốp cũng vậy. Bởi vì, đa phần những sư kê nghiêm túc đều coi trọng và nắm vững cách thực hiện những công đoạn này. Lúc này, màu mạng mới là yếu tố tạo nên sự khác biệt. Cùng choiga.org tìm hiểu Phép xem màu mạng là gì và cách xem màu mạng gà đá cựa sắt, gà chọi, tạo ưu thế trong mỗi trận đấu gà.

Phép xem màu mạng gà

Phép xem màu mạng được lưu truyền rất lâu trong dân gian, gắn liền với “thuyết Ngũ Hành” cổ xưa. Hiện nay, vẫn còn rất nhiều sư kê tin tưởng và áp dụng phép này vào các trận đá gà. Nó bao gồm nhiều yếu tố không thể “định lượng”, khó khăn trong việc phân tích, đối chiếu. Điều này dẫn đến việc ra đời của nhiều “môn phái” màu mạng. Ở bài viết này, chúng ta cùng tìm hiểu phép xem màu mạng theo Kê kinh – tài liệu gần như xưa nhất về chủ đề gà chọi, đã xuất hiện cách nay hơn một thế kỷ.

Phép Xem mạng gà theo Kê kinh

Kê kinh được dịch từ “sách gà Phạm Công”, được viết bằng chữ Hán hoặc chữ Hán Nôm. Tương truyền, tác giả Kê kinh là Tả Quân Lê Văn Duyệt (1763-1832). Thủa đường thời, ông rất ham mê chọi gà và nuôi hàng ngàn chiến kê để nghiên cứu phép xem tướng, xem vảy, màu mạng gà.

Phép xem màu mạng này có nội dung gồm 4 phần:

– Phân tích sắc lông cùng với hành tương ứng.
– Sinh khắc của màu lông.
– Tứ thời sinh khắc (sinh khắc theo mùa)
– Nhật thần sinh khắc (sinh khắc theo ngày)

1. Phân tích Sắc lông cùng Hành tương ứng

Kim : gà nhạn
Mộc : gà xám
Thủy : gà ô
Hỏa : gà điều, gà tía
Thổ : gà ó vàng

Giải thích:

– Hành mộc có màu xanh, tại sao xếp gà xám vào hành mộc? Nếu quan sát kỹ, ta sẽ thấy màu xám có ánh xanh. Nhận ra điều này, người phương Tâygọi là “blue” thay vì “grey”. “Grey” là dòng gà chuối – những con hắc sắc tố lan đến lông bờm và lông mã gọi là “chuối bùn”. Đấy là màu xám thuần túy không lẫn sắc xanh.

– Bình thường, màu vàng được xếp vào hành kim. Tuy nhiên, Kê kinh lại xếp màu vàng (cùng màu nâu) vào hành thổ. Màu ó đi đôi với mã lại thành “ó mã lại” – gà trống mang gien đột biến khiến nó có mã mái cùng màu nâu sẫm thường thấy ở gà mái.

– Tên gọi nhiều khi không phản ánh đúng thực chất. Chẳng hạn gà “điều” hay gà “tía” có nhiều tông màu khác nhau từ đỏ, cam, vàng đến nâu. Nếu màu ngả sang tông vàng hoặc nâu thì đước xếp vào hành thổ. Hay gà khét điều hành hỏa, nhưng khét vàng hay khét nâu lại thuộc hành thổ.

– “Cứ theo sắc chánh mà suy”. Nếu gà có nhiều màu sắc khác nhau, việc xem hành phụ thuộc vào màu sắc chính (màu ở thân và cánh). Màu ở đuôi, lông mã, lông bờm là màu sắc phụ. Bên cạnh đó, Những hoa văn như lau (đuôi, cánh có lẫn màu trắng), bông, nổ (đốm trắng) hay cú (sọc vằn) cũng là màu sắc phụ.

– Màu tía, điều là một trường hợp ngoại lệ. Bởi, Màu tía điển hình có lông bờm, lông mã, một phần của vai, cánh màu đỏ, thân và đuôi màu đen. Nếu phân tích theo định nghĩa ở trên thì màu tía thuộc hành thủy (thân màu đen), chỉ có gà khét mới đúng là hành hỏa. Đây là điểm mâu thuẫn của Kê kinh hoặc gà tía (điều) trong bài này ám chỉ đến “gà khét” chứ không phải cách chúng ta thường hiểu hiện nay.

– Một số màu Kê kinh không đề cập:

+ Gà ngũ sắc có đủ 5 màu tương ứng ngũ hành. Gà ngũ sắc không theo mạng vì Kê kinh chỉ lấy sắc chính làm đại diện.
+ Một số màu mới xuất hiện sau này cũng không được Kê kinh đề cập đến. Ví dụ: Màu bướm ở gà nòi cựa (gốc gà Mỹ), cụ thể là dòng Whitehackle…

Cách xem màu mạng gà: Phân tích sắc lông cùng với hành tương ứng

Phân tích sắc lông cùng với hành tương ứng

Ngũ hành luận:

– Tương sinh (hỗ trợ, giúp đỡ): kim -> thủy, thủy -> mộc, mộc -> hỏa, hỏa -> thổ, thổ -> kim.

– Tương khắc (cản trở, khắc chế): kim -> mộc, mộc -> thổ, thổ -> thủy, thủy -> hỏa, hỏa -> kim. Các hành hầu như khắc lẫn nhau, không có hành nào là vô địch.

– Tương hòa (bình hòa, không hỗ trợ hay cản trở): kim >> kim, mộc >> mộc, thủy >> thủy, hỏa >> hỏa, thổ >> thổ.

– Tương thừa (với hàm ý “thừa thế lấn áp”). Ví dụ “mộc khắc thổ”, nhưng nếu mộc quá mạnh hoặc thổ quá suy thì gọi là “mộc thừa thổ”.

– Tương vũ (với hàm ý “khinh nhờn”). Ví dụ “thủy khắc hỏa” nhưng nếu hỏa quá mạnh hoặc thủy quá suy thì được gọi là “hỏa vũ thủy”.

Quan hệ biện chứng

– Tương sinh được chia thành “sinh nhập” (kẻ khác hỗ trợ mình nên gia tăng công lực) và “sinh xuất” (mình hỗ trợ cho kẻ khác nên hao tổn công lực). Ví dụ: “mộc sinh hỏa” thì mộc là “sinh xuất”, còn hỏa là “sinh nhập”

– Tương khắc cũng chia thành “khắc nhập” (bị kẻ khác khắc chế) và “khắc xuất” (khắc chế kẻ khác). Ví dụ: “thổ khắc thủy” thì thổ là “khắc xuất” còn thủy là “khắc nhập”

2. Sinh khắc của màu lông

Nhạn: thắng ó vàng, xám; thua ô, điều.
Xám: thắng ô, ó vàng; thua điều, nhạn
Ô: thắng nhạn, điều; thua xám, ó vàng
Điều: thắng xám, nhạn – thua ó vàng, ô
Ó vàng: thắng điều, ô – thua nhạn, xám

Cách xem màu mạng gà: Sinh khắc của màu lông

Sinh khắc của màu lông

– Luận về “thắng-thua”, quan hệ tương khắc rất dễ hiểu, ví như “A khắc B” = A thắng, địch thua. Với quan hệ tương sinh, làm thế nào để biết ai thắng ai thua? Bởi tương sinh là quan hệ hỗ trợ, giúp đỡ. Tuy nhiên, áp dụng vào đá gà thì nhất định phải có người thắng kẻ thua. Căn cứ theo ngũ hành luận ta có: sinh xuất bị mất công lực, sinh nhập tăng công lực. Do đó, sinh nhập ăn sinh xuất. Ví dụ “A sinh B” = A thua, B thắng.

– Kê kinh không phân định rõ thắng thua trong quan hệ tương sinh. Tuy nhiên, theo phần nhật thần sinh – khắc, “sinh nhập” luôn thu được lợi thế còn “sinh xuất” lại bị liệt vào vận hạn. Ví dụ, ngày mộc thì gà tía mạnh nhất bởi mộc sinh hỏa. Suy luận tương tự vào ngày thủy gà nhạn (kim) sẽ bị rơi vào ngày kỵ.

– Một số tài liệu gà không đề cập đến thắng thua trong quan hệ tương sinh. Theo cụ Toan Ánh, tương sinh được áp dụng vào lai tạo giống, màu gà trống và mái phải hợp thì mới cho ra những lứa con đá hay, có lực. Mức độ thắng thua trong quan hệ tương sinh không rõ ràng như tương khắc. Nếu các yêu tố khác là như nhau, cặp gà tương sinh rất khó để phân thắng bại.

Cách xem màu mạng gà

3. Tứ thời sinh khắc

Tứ thời sinh khắc tức sinh khắc theo mùa, thể hiện mối quan hệ vượng – suy của các hành theo mùa.
Bốn mùa xuân, hạ, thu, đông luôn tuần hoàn, hoán chuyển. Cuối mỗi mùa sẽ có một giai đoạn nhập thổ (tứ quý).
Hành đại diện của các mùa:
+ Xuân: mộc
+ Hạ: hỏa
+ Thu: kim
+ Đông: thủy
+ Tứ quý (giai đoạn nhập thổ): thổ.

Cách xem màu mạng gà đá cửa sắt: Hành đại diện của các mùa

Hành đại điện của các mùa

Quan hệ màu gà theo mùa

Gà xám cực thịnh (vượng) vào mùa xuân, mạnh (tướng) vào mùa đông, ổn định (hưu) vào mùa hạ, sa sút (tù) vào tứ quý và bại (tử) vào mùa thu.

Cách xem màu mạng gà: Quan hệ màu gà theo mùa

Quan hệ màu gà theo mùa

Quan hệ của mùa theo màu gà

Vào mùa đông, gà ô đạt cực thịnh (vượng), gà xám mạnh (tướng), gà nhạn ổn định (hưu), gà ó vàng sa sút (tù) còn gà điều bị bại (tử).

Cách xem màu mạng gà: Quan hệ của mùa theo màu gà

Quan hệ của mùa theo màu gà

Giải thích:

– Khi hành quá vượng hay quá suy sẽ diễn ra sự mất cân bằng trong quan hệ sinh-khắc, xuất hiện hiện tượng khinh lờn hoặc tương vũ. Các hành đạt “vượng”, “tướng” sẽ chuyển hung thành cát; các hành ở “tù”, “tử” sẽ chuyển cát thành hung.

Ví dụ:
Mùa xuân mộc thạnh khôn cùng
Gà nhạn tuyết [tiết] ấy khắc đồng mấy cho

Gà nhạn đá gà xám vào mùa xuân. Theo lẽ thường “kim khắc mộc”, nhạn phải thắng xám. Tuy nhiên, vào mùa xuân, nhạn bị sa sút (tù), trong khi xám lại cực thịnh (vượng) nên “mộc vũ kim”, xám thắng nhạn. “Vượng” của gà nhạn vào mùa thu, nhưng mùa này thường mưa, gà xổ lông, không ai đá gà vào mùa này nên gà nhạn dù lợi thế nhưng không có nhiều cơ hội để thi thố.

4. Nhật thần sinh khắc (Sinh khắc theo ngày)

Đây là quan hệ sinh khắc của màu gà với hành của ngày.

Hành của thập thiên can như sau:
– Giáp, Ất: mộc
– Bính, Đinh: hỏa
– Canh, Tân: kim
– Nhâm, Quí: thủy
– Mậu, Kỷ: thổ

Chẳng hạn: Ngày Ất Mão có Ất: mộc. Do vậy ngày Ất Mão hành mộc.

Nhật thần sinh khắc (Sinh khắc theo ngày)

Sinh khắc theo ngày

– Ngày kỵ: là những ngày rơi vào “vận tam lâm”: gà khắc ngày, ngày khắc gà, gà sinh xuất ngày (mất công lực). Những ngày này, tuyệt đối không nên mang gà đi đá.
Ví dụ, ngày Nhâm Thìn có hành thủy, do vậy, các gà ó vàng, nhạn không đá được.
Kê kinh có câu:
“Thổ, kim, hoả, vận tam lâm
Nhựt thần là thủy khắc thâm ba chàng”

– Ngày tốt: là những ngày bình hòa hoặc sinh nhập. Ví dụ, ngày Ất Mão hành mộc, là ngày tốt của gà xám và gà điều, có thể đem đá được. Tuy nhiên, vì Mộc sinh Hỏa nên gà điều mạnh hơn vì được tiếp thêm công lực.
“Ngày nào thuộc mộc tía no”

– Nhật thần có thể làm thay đổi thế trận của trận đấu nhờ vào Tương vũ. Ví dụ: bình thường ô sẽ ăn tía (thủy khắc hỏa). Tuy nhiên, vào ngày hỏa xẩy ra Tương vũ “hỏa vũ thủy”, tía ăn ngược lại ô!

“Tía thuộc mạng hoả là thường,
Ô thủy gặp (ngày) hoả phải nhường anh”

– Ngày âm lịch gồm 2 yếu tố là thiên can và địa chi. Thiên can và địa chi đều có hành của riêng mình. Thiên can kết hợp với địa chi tạo thành Nạp âm. Nạp âm cũng có hành riêng. Để tính nhật thần cho gà, Kê kinh chỉ lấy hành của thiên can, bỏ qua địa chi và nạp âm. Đây là điểm khác biệt nổi bật của Kê kinh đối với các môn phái màu mạng lưu truyền trong dân gian.
Ví dụ: ngày Giáp Thìn, Giáp hành mộc, vì mộc sinh hỏa nên đem gà tía đi đá là lợi nhất, tiếp đó là gà xám.

– Một số trường phái khác xem mạng gà dựa vào nạp âm (kết hợp của can chi theo bảng Lục thập hoa giáp). Ví dụ, ngày Giáp Thìn là hành hỏa “phú đăng hỏa”, không phải hành mộc. Một hành cũng được chia thành mấy loại khác nhau. Tuy nhiên, Kê kinh không sử dụng nạp âm để tính toán nhật thần.

Tóm tắt nội dung Kê kinh

– Việc xác định sắc lông chính của gà là cực kỳ quan trọng. Nó không chỉ ảnh hưởng đến màu mạng mà còn ảnh hưởng đến các yếu tố khác như: tứ thời sinh khắc, nhật thần sinh khắc. Tuy nhiên, gà chọi ngày nay được lai tạo với nhiều màu sắc nhau, những màu pha như cam hoặc nâu. Hoặc trường hợp gà có 2 – 3 màu lông mà không màu nào tỏ ra vượt trội. Đôi khi, việc này không hề dễ dàng vì gà chọi ngày nay được lai tạo với nhiều màu sắc khác lạ, chẳng hạn những màu pha như cam hay nâu. Hoặc giả, gà có hai, ba màu mà không màu nào tỏ ra vượt trội thì biết lấy màu nào làm sắc chính? Do vậy, nếu theo đuổi phép xem mạng gà theo Kê kinh, người chơi không nên chọn gà có màu rơi vào trạng thái lửng lơ. Như vậy hành mới thể hiện rõ rệt, thuận lợi cho việc tính toán

– Nếu tuân thủ quy luật “màu xanh thuộc hành mộc” thì chỉ những màu lông lẫn sắc xanh như xám khô (blue), tóe (splash) thuộc hành mộc. Màu xám không lẫn sắc xanh như màu bờm, mã của gà chuối bùn là màu pha trắng-đen (kim pha thủy).

– “Sọc vằn” là dạng hoa văn khá đặc biệt. Gà dính chút “sọc vằn” được gọi là “gà cú” do đó, gà cú có rất nhiều biến thể khác nhau. Vì đa sắc nên trong đa số trường hợp, bạn khó lòng nhận biết đâu là sắc lông chính. Hiện nay, gà chọi có 2 dạng cú điển hình là cú màu: thân vằn đen trắng, bờm vằn vàng (hành thổ pha kim pha thủy) và cú vằn vằn đen trắng (hành kim pha thủy). Ví dụ về gà cú có thể các định được sắc lông chính. 1 (hành thổ), 2 (hành kim).

– Phép xem màu mạng gà hiện nay đang trở nên ngày càng phổ biến. Do đó, ở một số trận đấu, người ta không cho đối phương thấy gà khi cáp, gà được cất ở giỏ và cáp theo cân nặng. Nếu hai bên đồng ý sẽ lấy ra đá luôn, sẽ bị phạt nếu bỏ đá.

– Quan hệ “tương vũ” trong tứ thời sinh khắc và nhật thần sinh khắc được Kê kinh nhấn mạnh. Hai phần này quan trọng hơn hẳn sinh khắc màu lông. Một phần nữa là do bạn không thể đoán biết trước màu lông của gà đối thủ. Do đó, khi ra trận, ta chỉ có thể tính được tứ thời sinh khắc và nhật thần sinh khắc có lợi nhất cho gà đá của mình.

Ví dụ, vào mùa xuân, gà xám mạnh nhất, tiếp sau là gà điều. Nếu mang gà xám đi đá, nên ưu tiên chọn ngày thủy, kế sau là ngày mộc. Với gà điều, chọn ngày mộc khi đó, kế là ngày hỏa. Mặc khác, trường gà thường mở vào cuối tuần, ta cần tính toán tiếp xem cuối tuần ngày nào là phù hợp. Khi đã xác định được ngày xuất trường, lên kế hoạch biệt dưỡng, ốp sao cho gà tới độ vào đúng thời điểm dự kiến.

Một số cách tính Kê kinh không bàn

Bên cạnh các cách tính trên, có một số cách tính tuy Kê kinh không bàn nhưng vẫn đang được áp dụng phổ biến

Sinh khắc theo giờ

Cách xem màu mạng gà dựa vào SInh khắc theo giờ

Sinh khắc theo giờ

Đây là bảng quy đổi từ giờ sang hành. Sau khi có hành, chúng ta tra theo bảng ở phần “nhật thần sinh khắc” tránh giờ kỵ, chọn giờ tốt.

Ta thấy, thời gian đá gà trong ngày từ 7 giờ sáng đến 5 giờ chiều ứng với các hành thổ, hỏa, kim. Như vậy, các màu nhạn, ó vàng, ô đều có những khung giờ thuận lợi nhất, màu điều cũng có giờ tốt nhưng không bằng. Gà xám luôn bất lợi trong các khung giờ đá thường thấy.

Phương hướng thả gà

Mỗi giờ ứng với một hướng, bạn căn cứ vào đó mà thả gà để có ưu thế tốt nhất.

Phương hướng thả gà

Phương hướng thả gà

Kết hợp giữa màu lông và màu chân

Hiện nay, trong dân gian còn tương truyền một số câu thể hiện độ mạnh của gà dựa vào sự kết hợp màu sắc của lông và chân như sau:
“Xám chân vàng cả làng mất váy”.
“Gà ô chân trắng mẹ mắng cũng mua. Gà trắng chân chì mua chi thứ ấy”
hoặc “Gà ô chân trắng mỏ ngà. Đá đâu thắng đó gọi là thần kê”.

Sinh khắc theo màu chân. Chân gà có tổng cộng 5 màu tương ứng với các hành như sau:
– Vàng: thổ
– Trắng: kim,
– Chì: thủy,
– Xanh lục và xanh dương: mộc.
Thiếu màu đỏ (hành hỏa), dư 1 màu xanh (hành mộc). Màu chân chỉ là yếu tố phụ, không quá ảnh hưởng đến kết quả trận đấu, dùng đến khi xét “hợp cách”.

Trên đây là những bí quyết xem màu mạng gà đá, gà chọi theo kê kinh. Rành về xem mạng gà đá, bạn có thể chọn được ngày, thời điểm đá và hướng thả để gà cưng có thể mang về kết quả tốt nhất.

Tìm kiếm phổ biến:

  • áp dụng thiên can địa chi trong sinh tử gà đá
  • Mau mang ga noi
Close [X]